Mức phạt đối với doanh nghiệp, cá nhân sử dụng phần mềm lậu được quy định như thế nào?
Câu hỏi:
Mức phạt đối với doanh nghiệp, cá nhân sử dụng phần mềm lậu được quy định như thế nào?
Trả lời:
Căn cứ khoản 1 Điều 22 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2025), phần mềm máy tính hay chương trình máy tính là tập hợp các chỉ dẫn được thể hiện dưới dạng lệnh, mã, lược đồ hoặc dạng khác, khi gắn vào một phương tiện, thiết bị được vận hành bằng ngôn ngữ lập trình máy tính thì có khả năng làm cho máy tính hoặc thiết bị thực hiện được công việc hoặc đạt được kết quả cụ thể. Chương trình máy tính được bảo hộ như tác phẩm văn học, dù được thể hiện dưới dạng mã nguồn hay mã máy.
Như vậy, có thể hiểu phần mềm lậu (hay còn được gọi là phần mềm Crack hay phần mềm đã bẻ khóa) là phần mềm trả phí bị can thiệp bằng các thủ thuật trở nên miễn phí một cách trái phép.
Việc sử dụng phần mềm lậu có thể bị xử phạt về hành vi sao chép tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả được quy định tại Điều 16 Nghị định 341/2025/NĐ-CP như sau:
Điều 16. Hành vi xâm phạm quyền sao chép tác phẩm
1. Phạt tiền đối với cá nhân có hành vi sao chép tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả theo quy định như sau, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này:
a) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng trong trường hợp số lợi bất hợp pháp thu được dưới 10.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu quyền tác giả dưới 20.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá dưới 20.000.000 đồng;
b) Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng trong trường hợp số lợi bất hợp pháp thu được từ 10.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu quyền tác giả từ 20.000.000 đồng đến dưới 40.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 20.000.000 đồng đến dưới 40.000.000 đồng;
c) Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng trong trường hợp số lợi bất hợp pháp thu được từ 20.000.000 đồng đến dưới 30.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu quyền tác giả từ 40.000.000 đồng đến dưới 60.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 40.000.000 đồng đến dưới 60.000.000 đồng;
d) Từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng trong trường hợp số lợi bất hợp pháp thu được từ 30.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu quyền tác giả từ 60.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 60.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng.
2. Phạt tiền đối với tổ chức có hành vi sao chép tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả theo quy định như sau, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này:
a) Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng trong trường hợp số lợi bất hợp pháp thu được dưới 20.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu quyền tác giả dưới 40.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá dưới 40.000.000 đồng;
b) Từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng trong trường hợp số lợi bất hợp pháp thu được từ 20.000.000 đồng đến dưới 40.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu quyền tác giả từ 40.000.000 đồng đến dưới 80.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 40.000.000 đồng đến dưới 80.000.000 đồng;
c) Từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng trong trường hợp số lợi bất hợp pháp thu được từ 40.000.000 đồng đến dưới 60.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu quyền tác giả từ 80.000.000 đồng đến dưới 120.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 80.000.000 đồng đến dưới 120.000.000 đồng;
d) Từ 60.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng trong trường hợp số lợi bất hợp pháp thu được từ 60.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu quyền tác giả từ 120.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 120.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng.
3. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi sao chép tác phẩm mỹ thuật mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả trong trường hợp không thể xác định được số lợi bất hợp pháp thu được hoặc thiệt hại của chủ sở hữu quyền tác giả hoặc giá trị hàng hóa vi phạm.
4. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc tiêu hủy hoặc buộc gỡ bỏ hoặc xóa bản gốc, bản sao vi phạm trên môi trường mạng viễn thông và mạng Internet đối với hành vi quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này. Trường hợp đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Điều 83 Nghị định số 17/2023/NĐ-CP thì áp dụng biện pháp buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại;
b) Buộc trả cho chủ thể quyền tác giả số lợi bất hợp pháp thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này trong trường hợp phát sinh số lợi bất hợp pháp.
Ngoài ra, hành vi sử dụng phần mềm lậu có thể sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm quyền tác giả và quyền liên quan tại Điều 225 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017) quy định với tội xâm phạm quyền tác giả và quyền liên quan.